Không như ở ta, nhiều khi người đàn ông đã đưa hết tiền cho vợ thì “anh ta” có quyền bắt vợ làm nhiều việc”, chị nói
Cuốn tiểu thuyết “Lời cuối cho em” được tái bản nhiều lần sau đó. Chỉ có điều, dù thế nào, chị cũng vẫn đứng về “phe” của mình-phe nước mắt. Thật ngẫu nhiên, hầu như các tác phẩm của chị, đặc biệt là truyện ngắn, nhân vật chính hầu hết là nữ. Họ biết săn sóc cho bản thân nhiều hơn, nhiều người dám sống cho mình, dám chịu bổn phận; họ rất yêu quý ba má nhưng vẫn chọn cách sống của bản thân họ, và chị ủng hộ điều đó.
Nếu viết về những người nữ giới ấy, chị cũng vẫn sẽ san sẻ với họ sự đồng cảm này. Chị bảo rằng, không ít lần chị động lòng khi chứng kiến người đàn ông Âu, Mỹ họ “nịnh” nữ giới, mà họ “nịnh” ghê lắm.
Luôn đồng cảm dù họ là ai Trước khi đến với nghề văn, Trần Thị Trường từng đeo đuổi một nghề khác và ham mê với nó, đó là hội họa. Lúc nào người nữ giới cũng phải nhẫn trước chồng, mới vừa mắt nhà chồng và đồng nghiệp. Ở đó, người phụ nữ vừa đáng thương vừa đáng giận, vừa đáng ghét vừa đáng yêu. Trần Thị Trường không phải không mâu thuẫn với chính mình khi bản thân chị cũng nhận biết được những khoảng trống khó có thể lấp đầy với người phụ nữ sống đơn thân ở Việt Nam, điều hoàn toàn không có gì đáng phải bàn đến ở các nước phương Tây.
Mong những người nữ giới mạnh mẽ hơn lên Trần Thị Trường tự nhận mình thuộc đời trước. Thời gian sống ở trời Âu những năm tám mươi của thế kỷ trước càng khiến Trần Thị Trường đồng cảm với người đàn bà Việt hơn.
Không cố ý gán cho nhân vật một sự tuyệt đối nào nhưng chị mường tượng rằng, cái tên “Thương” phải chăng là đại diện cho bản chất của người đàn bà Việt Nam. Riêng chuyện sinh nở đã là dị biệt và quá khó nhọc. Không chỉ đàn ông không thích nữ giới hơn mình, mà đàn bà với nhau cũng xói móc nhìn nhau. Với chị cũng vậy. Bạn bè đọc được, người này người kia bảo chị có hơi hướng văn học, thế nên khi không còn trẻ gì, 39 tuổi, chị bỗng trình làng tác phẩm đầu tay, cơ mà là tiểu thuyết (cố nhiên, đấy là theo cách nói của chị, chứ thật ra nhiều người bắt đầu viết văn ở tuổi cao hơn nhiều).
Chị cũng là phụ nữ và chị hiểu quơ những điều ấy. Người phụ nữ Việt Nam yêu chồng không chỉ lên đường bởi chữ “yêu” mà còn phải “thương” nữa. Thế nên, họ cũng luôn hỏi người đàn ông của mình rằng “anh có yêu em không”, chữ “yêu” thiêng ấy bao giờ cũng phải đứng cạnh chữ “thương”, khi ấy “yêu” mới trót, sâu nặng và bền lâu. Phụ nữ nào cũng yếu đuối, nông nổi, cả tin, thậm chí chua ngoa, đáo để nhưng cứ nhìn kỹ mà xem, có cuộc hôn nhân nào vỡ lẽ khi ra tòa mà người giành nuôi con không phải là đàn bà đâu?”, chị nói.
Đời mà xã hội qui định cho nữ giới những khuôn mẫu, chỉ cần họ sống khác đi một chút đã nhận được cái nhìn không cảm thông, mẹ chồng có thể nhìn thẳng vào con dâu mà nói “con hơn chồng con là tai họa rồi”. “Ngay như hiện, báo chí hay trò chuyện này chuyện kia về giới showbiz, cô này trong đường dây gái gọi, cô kia đi với đại gia và nhiều chuyện khác nữa, nhưng tôi tin đó chỉ là bề nổi, phía sau đó họ cũng có câu chuyện của họ.
Và trái tim đa cảm của đàn bà khiến chị luôn đồng cảm với những nhân vật của mình dù họ là ai, làm nghề gì, dù là trí thức, là dân văn phòng, hay những người cần lao, người đi bán café, đi làm khách sạn, thậm chí là gái làm tiền.
Tất nhiên, Âu Mỹ, trong quan hệ nam nữ, họ thống nhất với nhau một số những nguyên tắc căn bản về tiền bạc. Và cũng từ đó, Trần Thị Trường viết liên tục. Nhưng chị cũng muốn nhắn gửi tới giới của mình rằng chị đã sang một cuộc đời khá dài, đi nhiều nơi, sống ở nhiều chỗ, xúc tiếp với nhiều cảnh ngộ và mệnh người, thấy phụ nữ trên toàn thế giới dù có được đàn ông chiều đến mấy thì vẫn khổ.
Bản năng đàn bà cộng với sự nhạy cảm của người viết văn đã cho chị cái nhìn toàn diện và biết rất rõ mình nên đứng ở đâu và viết vì lẽ gì. Những truyện ngắn ban đầu được viết ra chẳng có ý đồ gì cho việc trở nên nhà văn sau này cả, chúng được viết theo kiểu tác phẩm tuổi trẻ, ký những cái tên khác nhau.
Thế nên, từ “Lời cuối cho em” đến truyện ngắn sau này trong các tập truyện ngắn “thời kì ngoảnh mặt”, (2001), “Hoa mưa” (2003), “Tình như chút nắng” (2005) hay những truyện ngắn gần đây “Sóng vỗ mạn thuyền”, … chị viết và hy vọng, nếu họ đọc được thì đấy là một sự san sớt của con người với con người, của những người đàn bà với nhau trong thế cuộc này.
Trong vòng quay ngày một tăng tả và ngày càng phát triển của cuộc sống, người phụ nữ hiện giờ bản lĩnh hơn xưa rất nhiều. Nhưng dù họ có mưu đồ đến mấy, có thể sẵn sàng ăn bớt ăn xén ở đâu đó thì rút cục cũng lại đem về cho chồng cho con chứ chẳng phải vì bản thân mình.
Chỉ có điều, người thì nói ra, người thì cất giữ, người tài ba diễn đạt bằng ngôn ngữ đẽo gọt và rèn luyện mà có, bằng không thì họ kể câu chuyện theo cách của riêng mình. Nhưng văn chương như mạch nước ngầm sẵn có trong mỗi người, sẵn sàng cho dòng nước mát lành khi được khơi đúng nguồn.
“Tôi không thấy cặp vợ chồng nào đi với nhau mà người phụ nữ phải xách nặng, còn đàn ông đi tay không. Xuân Phong. Nhân vật nữ chính trong truyện tên là Thương, một người nữ giới mang đầy đủ vẻ đẹp của nữ giới Việt, hạnh phúc và cay đắng.
Chị xót thương những số phận như thế. Nhớ lại một thời kỳ, cuộc sống vô vàn khó khăn, nhiều người thất nghiệp, nhiều ông chồng chẳng có việc làm, nhiều bà vợ đứng ra đảm nhận gánh nặng cơm áo. Khi xuống xe, người đàn ông vội chạy xuống mở cửa, đưa tay đỡ người đàn bà bước xuống… Trí thức cũng như công nhân, đều như vậy”. Chị muốn người đàn bà mạnh mẽ hơn lên, làm chủ cuộc sống hơn lên, nhưng vẫn chẳng thể tưởng tượng một người nữ giới sống đơn thân thì sẽ sống thế nào? Nhưng sau khi nghe câu chuyện của những người đàn ông trong một vài cặp vợ chồng già nói chuyện với nhau rằng, nếu giời bắt phải chết thì xin mong cho được chết trước vợ mình vì họ sẽ không biết phải làm gì trong Thời gian còn lại của thế cuộc khi chỉ có một mình; thì chị nghĩ rằng người phụ nữ dù có sống một mình cũng chẳng sao cả, xét cho đến cùng, họ vẫn phải tự làm lấy mọi việc một mình.
Từ cái nhìn ấy, chị thấy người phụ nữ Việt Nam quả thực vĩ đại, nhưng chính họ cũng làm hư người đàn ông của mình. Nhưng người đàn bà cũng phải biết kìm chế cảm xúc, biết nên giới hạn đến đâu là vừa để không tự làm khổ mình. Ngay trong “Phố Hoài”, cuốn tiểu thuyết viết đã ba năm (chị chẳng thể viết nhanh bởi công việc bận rộn ở trọng điểm bản quyền tác giả âm nhạc VN; hơn nữa chị cho rằng, ở tuổi này rồi chị muốn làm một cái gì đó kỹ lưỡng hơn, sâu nặng hơn), cũng tụ hợp vào thân phận những người phụ nữ mà chị đã gặp mà chưa viết được về họ.
Người có nghề nghiệp thì không nói làm gì, những người cùng bất đắc dĩ phải đi là những việc không giải thích được, không dễ hiểu thì hàng xóm tức tốc gọi là “con đĩ”.
Họ không xách đồ thì là bế con.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét